Khi nào Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con?
Cha, mẹ có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, đồng thời là người đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con trong những trường hợp luật định. Tuy nhiên, quyền của cha, mẹ không phải là quyền tuyệt đối, bởi trong một số trường hợp nếu gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc quyền lợi của con, pháp luật cho phép Tòa án xem xét hạn chế một số quyền của người đó nhằm bảo vệ trẻ em. Vậy khi nào Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con? Xin mời các bạn tham khảo thông tin trong bài viết dưới đây.
1. Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con trong trường hợp nào?
Theo Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 sửa đổi bổ sung 2015 (Luật HNGĐ), cha, mẹ có thể bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong những trường hợp được pháp luật quy định. Đây là biện pháp nhằm ngăn ngừa nguy cơ trẻ tiếp tục bị xâm hại và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên. Cụ thể:
1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:
a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
b) Phá tán tài sản của con;
c) Có lối sống đồi trụy;
d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

1.1. Bị kết án về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chăm sóc con
Một trong những căn cứ để xem xét hạn chế quyền của cha, mẹ là người đó bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý; hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Đối với trường hợp thứ nhất, việc bị kết án phải gắn với hành vi phạm tội thuộc nhóm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của chính người con và được thực hiện với lỗi cố ý theo quy định của pháp luật.
Đối với trường hợp thứ hai, hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của cha, mẹ có thể được xem xét ngay cả khi không thuộc tình huống đã bị kết án về tội xâm phạm con. Tuy nhiên, không phải mọi thiếu sót trong quá trình nuôi dạy con đều được coi là vi phạm nghiêm trọng. Tòa án cần đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi và các tình tiết liên quan.
Ví dụ, cha hoặc mẹ thường xuyên bỏ mặc con trong hoàn cảnh nguy hiểm, không thực hiện những nghĩa vụ chăm sóc thiết yếu khiến trẻ bị ảnh hưởng nghiêm trọng về sức khỏe hoặc sự phát triển có thể là tình tiết cần được xem xét. Việc có đủ căn cứ áp dụng biện pháp hạn chế quyền hay không phải do Tòa án đánh giá trên cơ sở chứng cứ và quy định pháp luật.
1.2. Phá tán tài sản của con
Theo điểm b khoản 1 Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, phá tán tài sản của con là một căn cứ để xem xét hạn chế quyền của cha, mẹ.
Tài sản riêng của con có thể được hình thành từ việc được tặng cho, thừa kế, thu nhập hợp pháp hoặc các nguồn khác theo quy định pháp luật. Cha, mẹ có thể là người quản lý tài sản của con trong những trường hợp luật định, nhưng việc quản lý này không đồng nghĩa với quyền tự do sử dụng tài sản của con vì lợi ích cá nhân.
Chẳng hạn, cha hoặc mẹ cố ý sử dụng, chuyển nhượng hoặc làm thất thoát tài sản riêng của con nhằm phục vụ lợi ích riêng, gây thiệt hại đến quyền lợi của trẻ. Nếu hành vi có đủ dấu hiệu được pháp luật xác định là phá tán tài sản của con, đây có thể là căn cứ để yêu cầu Tòa án xem xét hạn chế quyền.
Trong thực tế, cần phân biệt hành vi phá tán tài sản với việc quản lý, sử dụng tài sản hợp pháp vì lợi ích của con. Việc tài sản giảm giá trị hoặc phát sinh tranh chấp không đương nhiên chứng minh cha, mẹ đã phá tán tài sản. Nguồn gốc tài sản, mục đích sử dụng, giao dịch đã thực hiện và hậu quả thực tế đều là những yếu tố cần được xem xét.
1.3. Có lối sống đồi trụy
Điểm c khoản 1 Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cha, mẹ có lối sống đồi trụy thuộc trường hợp có thể bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.
Đây là căn cứ cần được đánh giá dựa trên tình tiết thực tế, không nên suy diễn chỉ từ một hành vi riêng lẻ hoặc định kiến về lối sống của một người. Tòa án cần xem xét các chứng cứ có liên quan, mức độ và ảnh hưởng của hành vi đến việc thực hiện trách nhiệm làm cha, mẹ cũng như quyền lợi của trẻ.
Tuy nhiên, việc cha hoặc mẹ có quan hệ tình cảm mới, tái hôn hoặc có lối sống khác với quan điểm của người còn lại không tự động đồng nghĩa với việc thuộc trường hợp bị hạn chế quyền. Cần đánh giá đúng căn cứ pháp luật thay vì chỉ dựa trên mâu thuẫn giữa cha mẹ.
1.4. Xúi giục hoặc ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội
Theo điểm d khoản 1 Điều 85, cha, mẹ có thể bị hạn chế quyền nếu xúi giục hoặc ép buộc con thực hiện những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Hành vi xúi giục là việc tác động, thúc đẩy con thực hiện hành vi không phù hợp; trong khi ép buộc thể hiện việc gây sức ép khiến trẻ phải thực hiện hành vi đó. Cần căn cứ vào hành vi cụ thể, hoàn cảnh và chứng cứ để xác định có thuộc trường hợp luật định hay không.
Tuy nhiên, không nên đồng nhất mọi hành vi cha mẹ định hướng, khuyên bảo hoặc áp dụng kỷ luật trong việc giáo dục con với hành vi xúi giục, ép buộc làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Tính chất và mục đích của hành vi phải được đánh giá cụ thể.

2. Tòa án có thể hạn chế những quyền nào của cha, mẹ và thời gian là bao lâu?
2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.
Theo khoản 2 Điều 85 Luật HNGĐ, căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của người, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên là từ 01 năm đến 05 năm và không cho cha, mẹ thực hiện một hoặc một số quyền sau đối với con chưa thành niên trong thời gian này:
- Trông nom con.
- Chăm sóc con.
- Giáo dục con.
- Quản lý tài sản riêng của con.
- Đại diện theo pháp luật cho con.
Như vậy, hạn chế quyền của cha, mẹ không nhất thiết đồng nghĩa với việc tước bỏ toàn bộ quyền và nghĩa vụ của người đó đối với con. Phạm vi hạn chế phải căn cứ vào tính chất vụ việc, mục đích bảo vệ trẻ và nội dung quyết định của Tòa án.
Trong thời gian bị hạn chế quyền, cha hoặc mẹ cần tuân thủ quyết định của Tòa án. Nếu có thay đổi về tình trạng thực tế hoặc có căn cứ đề nghị xem xét lại thời hạn, người có liên quan nên thực hiện theo trình tự pháp luật thay vì tự ý thực hiện những quyền đã bị hạn chế.
3. Ai có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con?
Không phải bất kỳ người nào cũng có quyền trực tiếp yêu cầu Tòa án giải quyết theo cơ chế này. Theo Điều 86 Luật HNGĐ quy định các chủ thể có quyền yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc yêu cầu gồm:
1. Cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội Liên hiệp Phụ nữ.
3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện cha, mẹ có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

