Quyền nuôi con và phân chia tài sản khi ly hôn
Hai vấn đề phát sinh phức tạp nhất trong quá trình giải quyết ly hôn chính là việc tranh chấp quyền nuôi con và phân chia khối tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Vậy quyền nuôi con thuộc về ai khi ly hôn và phân chia tài sản chung như thế nào? Để giải đáp thắc mắc này xin mời các bạn đọc cùng tham khảo bài viết dưới đây.
1. Nguyên tắc giải quyết quyền nuôi con
Theo Điều 81 Luật HNGĐ 2014 sửa đổi bổ sung 2025, quy định về quyền nuôi con như sau:
1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy, đối với quyền nuôi con nếu hai bên không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con, Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để quyết định giao con cho một bên nuôi dưỡng dựa trên các nguyên tắc:
- Con dưới 36 tháng tuổi: Được giao trực tiếp cho mẹ nuôi dưỡng, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
- Con từ đủ 07 tuổi trở lên: Tòa án bắt buộc phải xem xét nguyện vọng của con (con muốn ở với ai) trước khi ra quyết định. Tuy nhiên, nguyện vọng của con không phải là yếu tố duy nhất, Tòa án vẫn đánh giá toàn diện điều kiện của cha và mẹ.
- Tiêu chí đánh giá điều kiện nuôi con: Tòa án sẽ xem xét chứng cứ do các bên cung cấp về:
- Điều kiện vật chất: Thu nhập hàng tháng ổn định, chỗ ở hợp pháp, môi trường sống.
- Điều kiện tinh thần: Thời gian dành cho con, tình cảm, đạo đức, lối sống của người bố/mẹ.
2. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
Tại Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ 2014 sửa đổi bổ sung 2025, có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con sau khi ly hôn như sau:
Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Như vậy, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con thành niên. Mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định dựa trên thu nhập thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
3. Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng
Theo khoản 1 Điều 59 Luật HNGĐ quy định, trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận, còn trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó.

Theo khoản 2 Điều 59 Luật HNGĐ thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc sẽ được chia đôi (50/50), nhưng có tính đến các yếu tố sau để xác định tỷ lệ phân chia phù hợp:
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng: Bên nào gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn sẽ được xem xét chia phần nhiều hơn hoặc được nhận tài sản bằng hiện vật để ổn định cuộc sống.
- Công sức đóng góp của vợ, chồng: Vào việc tạo lập, phát triển và giữ gìn khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình (nội trợ, chăm sóc con cái) được coi như lao động có thu nhập.
- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên: Trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập.
- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng: Yếu tố lỗi (ngoại tình, bạo lực gia đình, cờ bạc, tẩu tán tài sản…) là một căn cứ quan trọng để Tòa án xem xét giảm tỷ lệ tài sản được chia đối với bên có lỗi.
Cách chia tài sản chung của vợ chồng như sau: được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Lưu ý: Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

