Sống chung không đăng ký kết hôn có được pháp luật bảo vệ không?
Hiện nay, không ít cặp đôi lựa chọn sống chung như vợ chồng nhưng chưa thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn. Có trường hợp hai người muốn tìm hiểu nhau trước khi tiến tới hôn nhân, cũng có trường hợp vì điều kiện cá nhân hoặc nhiều lý do khác mà chỉ tổ chức cuộc sống chung nhưng không đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Vậy sống chung không đăng ký kết hôn có được pháp luật bảo vệ hay không? Nếu hai người chia tay thì tài sản được phân chia như thế nào? Con sinh ra trong thời gian chung sống có được bảo đảm quyền lợi hay không?
1. Sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn có được công nhận là vợ chồng không?
Theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 sửa đổi, bổ sung 2015 (Luật HNGĐ):
1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.
2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.
Như vậy, việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Trường hợp nam, nữ không đăng ký kết hôn thì về nguyên tắc, quan hệ vợ chồng không được xác lập theo quy định của pháp luật.

Tại Điều 14 Luật HNGĐ quy định về giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau:
1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.
2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.
Như vậy, cần phân biệt giữa việc không được công nhận quan hệ vợ chồng và việc không được pháp luật bảo vệ quyền lợi. Hai vấn đề này không hoàn toàn giống nhau.
Nói cách khác, sống chung không đăng ký kết hôn không làm phát sinh đầy đủ quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng như trường hợp đã đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, nếu phát sinh tranh chấp về con chung, tài sản hoặc nghĩa vụ giữa hai người thì vẫn có cơ sở pháp lý để giải quyết.
2. Không đăng ký kết hôn thì khi chia tay có cần làm thủ tục ly hôn không?
Trong trường hợp nếu hai người chưa đăng ký kết hôn thì về mặt pháp lý không tồn tại quan hệ hôn nhân để Tòa án giải quyết ly hôn.
Do đó, khi không muốn tiếp tục chung sống, các bên không phải thực hiện thủ tục ly hôn giống như vợ chồng đã đăng ký kết hôn. Thay vào đó, nếu phát sinh tranh chấp thì có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết từng vấn đề cụ thể như quyền nuôi con, cấp dưỡng hoặc tranh chấp tài sản.
Ví dụ, một cặp đôi chung sống nhiều năm nhưng không đăng ký kết hôn, sau đó quyết định chia tay. Nếu hai bên tự thỏa thuận được việc chăm sóc con và phân chia tài sản thì có thể thực hiện theo thỏa thuận. Nếu xảy ra tranh chấp, một bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
3. Quyền của con khi cha mẹ không đăng ký kết hôn
Việc cha mẹ sống chung không đăng ký kết hôn không đồng nghĩa với việc con sinh ra trong thời gian chung sống bị hạn chế các quyền hợp pháp.
Trong Điều 15 Luật HNGĐ quy định quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn:
Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.
Điều này có ý nghĩa quan trọng trong thực tế. Dù cha mẹ không được pháp luật công nhận là vợ chồng, con vẫn có quyền được cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục theo quy định.
Khi hai người không còn chung sống, vấn đề cần quan tâm không phải là ai là “vợ” hay “chồng” mà là quyền và lợi ích của người con được bảo đảm như thế nào. Nếu cha mẹ không thỏa thuận được việc trực tiếp nuôi con, vấn đề này có thể được yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.

4. Tài sản chung khi sống chung không đăng ký kết hôn được giải quyết thế nào?
Tài sản là một trong những vấn đề dễ phát sinh tranh chấp nhất khi hai người chấm dứt việc chung sống.
Theo Điều 16 Luật HNGĐ quy định, quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết như sau:
1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.
Do đó, những người lựa chọn sống chung không đăng ký kết hôn nên chủ động lưu giữ giấy tờ, chứng từ và tài liệu thể hiện việc đóng góp tài chính vào tài sản chung để hạn chế rủi ro nếu sau này xảy ra tranh chấp.
5. Những rủi ro cần lưu ý khi không đăng ký kết hôn
Việc sống chung không đăng ký kết hôn có thể tạo ra sự linh hoạt trong đời sống của các cặp đôi nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý, đặc biệt khi thời gian chung sống kéo dài và hai bên cùng tạo lập tài sản hoặc có con chung.
Một trong những rủi ro đầu tiên là không phát sinh đầy đủ quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Khi xảy ra tranh chấp, các bên không thể đơn giản áp dụng toàn bộ quy định về tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng như một cuộc hôn nhân hợp pháp.
Bên cạnh đó, nếu cùng mua nhà, đất, ô tô hoặc tài sản có giá trị lớn nhưng không có thỏa thuận rõ ràng, việc chứng minh phần đóng góp của mỗi người sau này có thể gặp khó khăn.
Đối với những cặp đôi có con chung, việc xác lập và chứng minh quan hệ cha, mẹ, con cũng là vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt trong trường hợp một bên không hợp tác trong việc thực hiện các thủ tục liên quan.
Do đó, nếu lựa chọn sống chung không đăng ký kết hôn, mỗi bên nên chủ động bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách lưu giữ các giấy tờ liên quan đến tài sản, chứng từ chuyển tiền, hợp đồng mua bán, thỏa thuận về việc đóng góp tài chính và những tài liệu chứng minh quá trình chăm sóc con.
Đối với tài sản có giá trị lớn, các bên nên thống nhất rõ quyền sở hữu và phần đóng góp của mỗi người. Nếu có thể lập thỏa thuận bằng văn bản thì việc chứng minh quyền lợi khi xảy ra tranh chấp sẽ thuận lợi hơn.
Đặc biệt, khi đã có con chung, cha mẹ nên thống nhất trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con, đồng thời thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình đối với con dù quan hệ tình cảm giữa hai người có còn tiếp tục hay không.

