Tình trạng hôn nhân đồng tính ở Việt Nam và quy định của pháp luật
Cộng đồng LGBT nói chung và hiện tượng sống chung của các cặp đôi cùng giới nói riêng đã không còn là chủ đề xa lạ trong đời sống xã hội hiện đại. Dưới góc độ xã hội học, sự thừa nhận và tôn trọng đa dạng tính dục phản ánh mức độ văn minh và cởi mở của một quốc gia. Dưới góc độ pháp lý, việc điều chỉnh các quan hệ nhân thân và tài sản phát sinh từ sự sống chung này lại là một bài toán phức tạp, đòi hỏi sự cân bằng giữa giá trị truyền thống, quyền con người và kỹ thuật lập pháp. Vậy tình trạng hôn nhân đồng tính ở Việt Nam như thế nào và quy định của pháp luật đối với hôn nhân đồng giới ra sao?
1. Tình trạng hôn nhân đồng tính ở Việt Nam
Có thể hiểu LGBT là thuật ngữ viết tắt đại diện cho các cộng đồng:
- Lesbian (Đồng tính nữ): Phụ nữ có hấp dẫn về mặt tình cảm, tình dục với người cùng giới nữ.
- Gay (Đồng tính nam): Nam giới có hấp dẫn về mặt tình cảm, tình dục với người cùng giới nam.
- Bisexual (Song tính): Người có hấp dẫn tình cảm, tình dục với cả hai giới tính.
- Transgender (Chuyển giới): Người có bản dạng giới khác với giới tính sinh học khi sinh ra.
Đồng tính không phải là bệnh lý, không phải là sự lệch lạc về mặt đạo đức hay “trào lưu” xã hội. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã chính thức loại bỏ đồng tính ra khỏi danh sách các bệnh tâm thần từ năm 1990. Y học và tâm lý học hiện đại khẳng định xu hướng tính dục là một đặc tính tự nhiên của con người.

Trong đời sống thực tế, các cặp đôi đồng tính tại Việt Nam ngày càng cởi mở chung sống, tổ chức lễ cưới công khai và xây dựng tổ ấm cùng nhau dưới sự đón nhận tích cực hơn từ phía xã hội. Mọi người cũng có cái nhìn nhẹ nhàng hơn, giúp giảm bớt rào cản kỳ thị và tạo không gian sống tự do hơn cho cộng đồng LGBT. Tuy nhiên, dù được xã hội dần công nhận về mặt tình cảm và thực tế, các gia đình cùng giới này vẫn rơi vào tình trạng “vô hình” trước pháp luật do thiếu các cơ chế bảo hộ chính thức.
2. Quy định của pháp luật về hôn nhân đồng giới
Điều 8. Điều kiện kết hôn
1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
Trong khoản 2 Điều 8 của Luật HNGĐ năm 2014 sửa đổi bổ sung 2025 đã có sự thay đổi mang tính đột phá “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.” hơn so với quy định của khoản 5 Điều 10 Luật HNGĐ năm 2000 “Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính.”.
Việc chuyển từ “Cấm” sang “Không thừa nhận” cho thấy Nhà nước Việt Nam đã thừa nhận quyền sống thật với bản dạng giới và xu hướng tính dục của công dân như một quyền nhân thân thực tế, nhưng chưa sẵn sàng trao cho họ tư cách “vợ chồng” pháp lý chính thức.
Nhưng cần lưu ý, Nhà nước không cấm kết hôn cùng giới tính nhưng đồng thời cũng không thừa nhận việc kế hôn cùng giới tính. Chính vì chính trạng thái “không thừa nhận” này cũng tạo ra một “khoảng trống pháp lý” khổng lồ khi các cặp đôi cùng giới chung sống dài lâu.
2.1. Tranh chấp tài sản tích lũy trong thời gian sống chung
Theo Luật HNGĐ năm 2014 sửa đổi bổ sung 2025 , tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân mặc nhiên là tài sản chung hợp nhất. Tuy nhiên, cặp đôi đồng tính không được áp dụng quy định này.
Mà khi xảy ra tranh chấp tài sản, Tòa án sẽ áp dụng Bộ luật Dân sự 2015 về “Sở hữu chung theo thỏa thuận” hoặc “Giải quyết tài sản khi nam nữ sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn” (Điều 16 Luật HNGĐ 2014).
Rủi ro có thể xảy ra: Nếu một người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) hay Đăng ký xe, người còn lại rất khó chứng minh tiền đóng góp của mình nếu không có hóa đơn, chứng từ, chuyển khoản rõ ràng. Khi chia tay, người không đứng tên đối mặt với nguy cơ mất trắng.
2.2. Quyền thừa kế khi một bên qua đời
Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quyền thừa kế theo pháp luật thì hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Nhưng do không được cấp đăng ký kết hôn, người bạn đời cùng giới không thuộc Hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật.
Nếu người mất không để lại di chúc hợp pháp, toàn bộ di sản sẽ được chuyển cho cha, mẹ, con cái hoặc anh chị em ruột của người chết. Người ở lại dù đã gắn bó hàng chục năm và cùng tạo ra khối tài sản đó cũng có thể bị buộc rời khỏi căn nhà chung tay xây dựng mà không nhận được một đồng thừa kế nào nếu không cùng đứng tên trên giấy tờ tài sản hoặc chứng minh mình cũng có đóng góp giá trị tạo ra tài sản chung đó.

2.3. Quyền nhân thân và quyết định y tế khẩn cấp
Trong các tình huống ngàn cân treo sợi tóc (phẫu thuật cấp cứu, tai nạn giao thông), các cơ sở y tế yêu cầu người thân thích (vợ, chồng, cha, mẹ, con) ký cam kết phẫu thuật hoặc quyết định phương án điều trị.
Người bạn đời đồng tính không có danh phận pháp lý để ký giấy cam kết này. Bệnh viện có quyền từ chối sự đại diện của họ, dẫn đến việc chậm trễ cứu chữa nếu gia đình ruột thịt ở xa hoặc không chấp nhận mối quan hệ của họ.
2.4. Quyền nuôi con và nhận con nuôi
Theo Điều 8 Luật Con nuôi 2010, chỉ có vợ chồng hoặc cá nhân đủ điều kiện mới được nhận con nuôi.
Nên cặp đôi đồng tính không thể đứng tên chung là cha-cha hoặc mẹ-mẹ trên Giấy khai sinh của con nuôi. Chỉ một người đứng tên nhận con nuôi với tư cách cá nhân. Người còn lại về mặt pháp lý không có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nào đối với đứa trẻ, gây rủi ro lớn cho quyền lợi của đứa trẻ nếu người đứng tên gặp rủi ro.

